
|
NHÂN
ĐIỆN & Hiến Pháp Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO
· Những quan điểm rộng rãi về Sức Khoẻ Con Người:
Tuyên ngôn Phổ Thông về Nhân Quyền được
công nhận và công bố tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 10
tháng 12 năm 1948:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có tự do
và bình đẳng trong phẩm cách và quyền hạn, họ được ban cho
lý trí và lương tâm, mà mọi người nên đối xử với nhau trong
tình huynh đệ (Điều khoản 1).
Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng,
tín ngưỡng và tôngiáo; quyền nầy cũng bao gồm sự tự do thay
đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, sự tự do biểu lộ tôn giáo
hoặc tín ngưỡng của mình bằng cách truyền dạy, thực hành,
thờ phượng và làm lễ, dù là riêng cá nhân hoặc trong cộng
đồng với những người khác, tại địa điểm công cộng, hoặc
tư nhân. (Điều khoản 18).”
Kofi Annan, Secretary General of The United
Nations nói:
“Người có tôn giáo và văn hoá khác biệt
vẫn sống cạnh nhau ở khắp nơi trên thế giới, những người
có chung đặc tính được kết hợp với nhau thành nhiều nhóm.
Chúng ta có thể quý mên những gì mình có, mà không thù ghét
những gì, và những ai, không giống như mình; chúng ta có
thể tiến lên trong truyền thống của mình, ngay cả khi mình
học từ người khác, và biết kính trọng sự dạy dỗ của họ.”
Dr. Halfdan Mahler, Tổng Bí Thư Thứ 3 của Hội Y Tế Thế
Giới (1973-1988) nói:
“ Sức khoẻ chỉ được toàn vẹn cho những
ai nhìn nhận nó đầy đủ trong ánh sáng của vật chất, tinh
thần, xã hội và tâm linh”
Hippocrates, Cha đẻ của của Ngành Y Khoa Thế Giới nói:
“ Lỗi lầm lớn nhất của các Y Sĩ là cố gắng
chữa trị Thể Xác mà không chữa trị tinh thần, trong khi
Tinh Thần và Thể Xác của một con người chỉ là một mà thôi.”
Định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y Tế
Thế Giới (WHO) đã được thành viên các nước tán thành, đưa
vào Lời Tựa trong Hiếp Pháp WHO năm 1947:
“ Sức khoẻ là một trạng thái toàn vẹn của
thể xác, tinh thần, xã hội và tâm linh, mà nó không phải
chỉ là loại trừ bệnh tật và sự đau yếu”
· NHÂN ĐIỆN & SỨC KHOẺ CON NGƯỜI:
Xét tất cả những định nghĩa, qui định, phát biểu trên đây
của những cơ quan và giới chức thẩm quyền nhất của Cơ Quan
Y tế Thế Giới WHO và Tổ chức công quyền Liên Hiệp Quốc,
ngành học Nhân Điện, tên gọi chính thức và đầy đủ hiện nay
“Nhân Loại- Giác Ngộ- Tình Thương” do Giáo Sư Tiến Sĩ Lương
Minh Đáng thành lập năm 1989, cơ sở có trên 100 Trung Tâm
Nhân Điện, hoạt động trên 70 Quốc Gia, con số Học Viên khoảng
2 triệu người, Học Viên thuộc mọi thành phần nghề nghiệp,
tuổi tác, màu da, sắc tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo,
tín ngưỡng khác nhau, có đầy đủ tất cả những tư cách, tính
chất, mục tiêu và lợi ích, xứng đángva2 thích hợp để được
Cơ Quan Y Tế Thế Giới WHO và cơ quan công quyền Liên Hiệp
Quốc công nhận là một ngành học thuật của nhân loại nhằm
phục vụ nhiều lợi ích cho con người trên nhiều mặt: sức
khoẻ, thể xác, tinh thần, xã hội, tâm linh, vv.
Trên danh nghĩa, hiện nay Nhân Điện đã
là một thành viên chính thức của Tổ Chức Y Học Bổ Sung Thế
Giới, một Phân Ngành Y Học Bổ Sung của Viện Y Học Bổ Sung
Colombo, Sri Lanka, mang tên: “Ngành Trị Bịnh bằng Năng
lượng Vũ Trụ” (Faculty of Universsal Energy Healing). Với
tính cách và danh nghĩa nầy, Nhân Điện đã có đủ những yếu
tố và điều kiện cần thiết để trở thành một thành viên chính
thức của WHO, theo những định nghĩa, điều kiện và mục đích
của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế nầy, tổ chức quốc tế nhằm mang
lại những lợi ích về sức khoẻ cho con người trên những quyền
hạn căn bản, tự do và bình đẳng của con người, theo đúng
những Hiến Chương Nhân Quyền của Tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Theo những điều đã trích dẫn trên đây về
những định nghĩa và những quan điểm của Tổ Chức Y Tế Thế
Giới (WHO), thì Y Tế hay “công việc chăm sóc sức khoẻ con
người,” có những phạm vi rộng rải và những đóng góp đa dạng
của nhiều môn ngành học thuật khác nhau, không nhất thiết
phải gò bó nghiêm nhặt trong một phạm vi y học, y khoa nào,
không hạn chế, gò bó chật hẹp trong những phạm vi của bệnh
tật, ốm đau của thể xác, nó còn bao gồm cả những bệnh tật
ốm đau của cả nhiều phương diện khác như: tình cảm, tinh
thần, tâm linh, vân vân.
Tóm lại, chúng ta có thể đóng góp cho việc
bảo vệ hoặc chăm sóc cho Sức khoẻ Con Người bằng rất nhiều
cách thức khác nhau, bằng nhiều phương tiện khác nhau, rất
nhiều phạm vi nghiên cứu, học hỏi khác nhau, mà bất kỳ sự
đóng góp nào có thể đem lại sự lợi ích cho sức khoẻ con
người cũng đều đáng quí và đáng trân trọng; không có bất
kỳ ai, một cá nhân, một tổ chức nào có thể dành lấy những
ưu quyền hoặc độc quyền về y tế, cũng không ai có thể ngăn
cản, kết tội hoặc khinh rẻ những nghiên cứu, học hỏi hay
đóng góp của nhười khác cho những lợi ích về sức khoẻ của
con người, theo như những qui định về nhân quyền của LHQ.
WHO đã nhìn nhận quan điểm Sức Khoẻ Con
Người là một tổng thể lành mạnh của thể xác, tâm linh, linh
hồn, tình cảm, tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, xã hội, vân
vân. Nói một cách khác thì một ngành học thuật về Sức Khoẻ
Con Người phải là một ngành học thuật Tổng hợp, đa thức,
đa dạng chớ không phải là một ngành học chuyên biệt, chuyên
khoa nào, mà bất cứ một sự đóng góp dù là nhỏ nhoi nào cũng
phải được đối xử tử tế, công bằng, tuyệt đối không bị kỳ
thị, càng không thể bị miệt thị hay bị ngăn cấm.
Với tất cả những nhận định vừa nêu, Nhân
Điện có đầy đủ tất cả những tính chất và quyền hạn để trình
bày về những mục tiêu nghiên cứu học hỏi, và những đóng
góp quan trọng và lợi ích của ngành học Nhân Điện cho những
nhu cầu bảo vệ và chăm sóc Sức Khoẻ Con Người theo những
quan điểm và đường lối của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO.
· ĐỐI TƯỢNG & MỤC TIÊU của NHÂN ĐIỆN:
Nhân Điện có tên gọi chính thức hiện nay
“Nhân Loại- Giác Ngộ- Tình Thương” là ngành học thuật có
nội dung nghiên cứu học hỏi đa diện, đa năng và đa dạng
về Con Người theo đúng những định nghĩa và những quan niệm
của các nhà Y Học tân tiến hàng đầu trên thế giới như Dr.
Halfdan Mahler, Dr. Manoj Kurian, vv.
a/. Tịnh tâm – Hít thở - Thiền định:
“Hít Thở và Tịnh Tâm” là đối tượng nghiên
cứu học hỏi, thực hiện thực hành căn bản của ngành học Nhân
Điện, bất cứ Học Viên Nhân Điện Nhập Môn nào cũng phải trải
qua việc học tập “Hít Thở và Tịnh Tâm”, đối tượng nghiên
cứu học hỏi nầy tương tự như các môn phái Yoga Hít Thở của
người Ấn Độ đã nghiên cứu học hỏi từ nhiều ngàn năm trước
đây, hiện nay đã được nhiều vị Thiền Sư, Tôn Sư Thiền Học
nghiên cứu, áp dụng rộng rải trong nhiều lãnh vực tu luyện
và chữa trị bệnh tật tinh thần lẫn thể xác cho con người.
Điều quan trọng là những ngành học Hít
Thở Yoga Thiền Định đã chứng minh được những hiệu quả chữa
trị tinh thần cũng như thể xác con người, đã được nhiều
người, nhiều cơ quan tổ chức y tế thế giới, nhiều quốc gia
công nhận, tuyên dương hoặc cho phép nghiên cứu, học hỏi,
thực hiện, thực hành Thiền Định, Hít thở, Yoga, Tịnh Tâm,
vân vân. Những ngành học thuật Yoga, Thiền Định, Hít Thở,
Tịnh Tâm, vv, những ngành học thuật chăm sóc sức khoẻ con
người không cần đến thuốc men nầy chưa hề có tai tiếng sai
phạm nào trong quá trình nghiên cứu học hỏi, thực hiện thực
hành trong nhiều ngàn năm qua ở bất kỳ đâu, và càng ngày
càng có thêm nhiều người nghiên cứu, học hỏi, thực hiện
thực hành ở rất nhiều nơi trên thế giới.
“Hít Thở- Tịnh Tâm” hay Yoga Thiền Định
có nhiều phương thức khác nhau, nhiều định thức khác nhau,
nhiều ý niệm khác nhau, nhiều mức độ khác nhau, nhiều trình
độ khác nhau với nhiều kết quả và lợi ích khác nhau. Ngành
Nhân Điện có nhiều cấp lớp khác nhau, cho nên những phương
thức Thiền Định của Học Viên thay đổi từ thấp lên cao, từ
những động tác ngồi yên, nhắm mắt, hít thở, tịnh tâm lúc
mới nhập môn dần dần chuyển sang trình độ mở mắt tịnh tâm,
rồi tiến đến trình độ tịnh tâm nhưng vẫn đi đứng sinh hoạt
bình thường. Mỗi cách thức, cấp độ Thiền Định mang đến những
kết quả khác nhau, những lợi ích khác nhau về thể xác, tinh
thần, tâm linh tuỳ theo căn cơ, trình độ, năng lực, công
sức của mỗi người thực tập Thiền.
b/. Minh Triết – Giác Ngộ:
Học về Thiền Định, sau cùng Học Viên tiến
đến trình độ Thiền Định Cao Cấp là những trình độ “thiền
nhập định” và “thiền siêu nhập định”, tức là trình độ “Thể
Xác - Tâm Linh Minh Triết, Giác Ngộ”, cảnh giới cao nhất
của các nhà tu hành nhiều môn phái tu học Đông Tây, cũng
là mục tiêu nghiên cứu học hỏi cao nhất về Thiền Định của
ngành Nhân Điện. Nói một cách khác, Thiền Định là một trong
những phương tiện người Học Viên Nhân Điện dùng để nghiên
cứu, học hỏi, thực hiện thực hành để tìm đến mục tiêu chính
yếu là “Minh Triết Giác Ngộ”.
Nhà Phật gọi trạng thái “Minh Triết Giác
Ngộ” là Trí Huệ, đó là cái trí năng của Tâm Linh không phải
là trí năng của Thể Xác, đạt được cái trí năng của Thể Xác
chỉ mới là đạt được cái “Trí Tuệ” chớ chưa phải là “Trí
Huệ”, cảnh giới và năng lực tâm linh rất cao và rất khó
đạt thành đối với bất cứ ai. Chúng ta phải cần đến cái trí
năng Tâm Linh gọi là Minh Triết, Giác Ngộ hay Trí Huệ nầy
thì chúng ta mới có được một sức khoẻ toàn vẹn, một sự chữa
trị toàn diện thể xác và tinh thần theo như quan niệm y
khoa cơ bản của Hippocrates, Vị Tổ Sư của ngành Y Học Thực
Dụng Tây Phương, theo như quan niệm Y Tế toàn diện của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới WHO.
Minh Triết Giác Ngộ là mục tiêu chính yếu
và cao cấp của ngành Nhân Điện mà Thiền Định Nhập Định,
Siêu Thiền Định, Siêu Nhập Định là những phương tiện để
Học Viên nghiên cứu học hỏi thực hiện thực hành; đó là nói
về những phương diện lý thuyết, còn về những phương diện
thực hiện thực hành thì “sự thành đạt trình độ thể xác,
tâm linh minh triết giác ngộ” là vô cùng khó khăn, rất ít
người đạt được những quả vị nầy. Thiền Học đã có lịch sử
lâu dài mấy ngàn năm nhưng sự thành tựu Minh Triết Giác
Ngộ thật rất hiếm hoi, sự thành tựu tâm linh luôn luôn là
phần thưởng tâm linh của từng cá nhân, cho từng người hành
Đạo, hành Thiền. Những cuộc hành trình Thiền Định luôn luôn
là những cuộc hành trình đơn độc một mình, những cuộc hành
trình không có người đồng hành, ngay cả các vị Tôn Sư cũng
không cùng đồng hành với chúng ta, các vị Tôn Sư chỉ làm
nhiệm vụ của những người chỉ đường, hành Thiền cũng như
hành Đạo là công việc của từng cá nhân, không ai hành Thiền
dùm chúng ta, cũng không ai hành Đạo dùm cho chúng ta.
c/. Năng Lượng Vũ Trụ:
Tuy nhiên, trong ngành Nhân Điện, người
Học Viên luôn luôn nhận được sự trợ lực tâm linh bằng những
năng lượng tâm linh của Thầy Đáng, người sáng lập và lãnh
đạo ngành Nhân Điện, năng lượng tâm linh nầy danh từ khoa
học gọi là “Năng Lượng Vũ Trụ”, danh từ được dùng để gọi
tên ngành học thuật mới mẽ nầy, cộng thêm nữa là những Bài
Giảng trực tiếp của Thầy Đáng trong những lớp học Nhân Điện
Cao Cấp, dưới những hình thức hỏi đáp gọi là những SEMINARS.
Trong những lớp Seminars nầy Thầy Đáng giảng giải về nhiều
vấn đề, gần như mọi vấn đề, mọi đề tài, mọi vấn nạn của
con người, xã hội, nhân sinh, vân vân, trong đó tất yếu
có các vấn đề quan yếu của sức khoẻ con người là các vấn
đề thuộc các lãnh vực Tâm Lý, Tâm Linh.
“Năng Lượng Vũ Trụ” là một danh từ khoa
học thuần tuý để chỉ về một loại vật chất gần như vô hình
của vũ trụ nhưng đã được khoa học hiện đại thừa nhận sự
hiện hữu của nó trong không gian vũ trụ bao la, vô cùng
vô tận, bao gồm cả cái vũ trụ nhỏ bé địa cầu sinh sống của
chúng ta. Năng lượng vũ trụ xuyên suốt mọi loại hình thể
vật chất, luân lưu và năng động, chuyển dịch và biến hoá
không ngừng nghỉ với những vận tốc chuyển động nhanh hơn
ánh sáng; Năng lượng vũ trụ có nhiều tính chất rất kỳ diệu
mà hiện nay con người còn hiểu biết rất ít, một khi con
người hiểu biết được nhiều hơn về NLVT, và biết ứng dụng
những tính chất kỳ diệu của NLVT thì con người sẽ được hưởng
dụng muôn ngàn lợi ích lớn lao.
Một trong những tính chất kỳ diệu đặc biệt
của Năng Lượng Vũ Trụ là tính chất tâm linh siêu hình chi
phối sự sống con người và vạn vật mà ngành Nhân Điện đã
và đang ra công gắng sức nghiên cứu học hỏi, thực hiện thực
hành cho những ứng dụng nhân sinh, trong đó có sự sống và
sức khoẻ con người. Năng Lượng Vũ Trụ hãy còn xa lạ với
nhiều người nhưng những thành tựu của Nhân Điện trong thời
gian qua, những ứng dụng có kết quả trong việc chăm sóc
sức khoẻ con người, động vật, thực vật, nông lâm ngư nghiệp,
vân vân, là những bằng chứng và là những khích lệ trong
việc nghiên cứu và học hỏi nhằm những mục đích tốt đẹp và
cao cả là phục vụ nhân loại, nhân sinh, cây cỏ, thiên nhiên,
muôn loài vạn vật.
d/. Tâm Linh:
Khi nói Minh Triết Giác Ngộ hay Trí Huệ
là những năng lực của Tâm Linh, không phải là những trí
năng của Thể Xác, chúng ta đang nói về những phạm vi siêu
hình của Tâm Linh mà những trí năng và những nền văn minh
khoa học của con người còn chưa nghiên cứu nhiều và còn
chưa hiểu biết rõ. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà chúng
ta không có quyền đề cập đến, không phải vì vậy mà chúng
ta không có quyền nghiên cứu học hỏi, quyền tư duy và quyền
phát biểu về những quan điểm, quan niệm của chúng ta về
những lãnh vực tâm linh siêu hình nầy, bởi vì những quyền
căn bản của con người đã được Liên Hiệp Quốc công nhận,
như chúng ta đã nhiều lần nêu ra, và bởi vì những lợi ích
sức khoẻ cũng như những lợi ích về kiến thức của nhân loại
trong thời đại mới.
Tâm Linh là những ý niệm và lãnh vực siêu
hình đã có từ rất nhiều ngàn năm, nhưng vì là những vật
thể, những năng lượng vô hình cho nên cho đến nay nó vẫn
còn nhiều bí ẩn; văn minh vật chất càng phát triển thì những
nghiên cứu về tâm linh siêu hình càng ít đi; tuy nhiên tâm
linh không bao giờ biến mất khỏi trần gian, và tâm linh
sẽ luôn luôn là vấn đề cần phải quan tâm của con người,
và sau cùng thì con người, không có một ai không phải đối
diện với các vấn đề tâm linh siêu hình, những người tin
và cả những người không tin sự hiện hữu của những năng lượng
tâm linh siêu hình.
Vì thế, cho nên, thay vì chạy trốn các
vấn đề tâm linh siêu hình, chúng ta nên nghiên cứu học hỏi
các vấn đề tâm linh siêu hình để tìm kiếm và áp dụng những
lợi ích của nó cho sức khoẻ cũng như cho nhiều lợi ích thiết
thực khác của con người; thực tế, không chỉ có sức khoẻ
con người mà gần như là bất cứ lãnh vực nào của đời sống
con người cũng gắn liền với những yếu tố tâm linh siêu hình,
chỉ là vấn đề chúng ta có nhận thấy hay không nhận thấy,
chúng ta công nhận hay không công nhận, chúng ta nghiên
cứu hay không nghiên cứu, chúng ta học hỏi hay không học
hỏi.
Nhân Điện không ép buộc hay thuyết phục
ai, bất kỳ ai, tin hay nghe những quan niệm tâm linh của
ngành Nhân Điện, tuy nhiên Nhân Điện có thể trình bày, thậm
chí có thể hướng dẫn cho những ai thành tâm, nghiêm chỉnh
muốn nghiên cứu, học hỏi, hay muốn có những trải nghiệm
về tâm linh, bao gồm những tính chất lẫn những năng lực
của tâm linh siêu hình. Hầu hết những Học Viên Nhân Điện
chân chính đều có được những trải nghiệm tâm linh siêu hình,
ngay sau khi được Thầy Đáng khai mở Luân Xa 100% thì người
Học Viên Nhân Điện đã có thể có những trải nghiệm tâm linh
siêu hình, những cảm nhận về những năng lượng tâm linh vô
hình ở quanh mình, khả năng tiếp xúc và cả những năng lực
hoá giải những năng lượng tâm linh siêu hình nầy.
Nói một cách cụ thể và rõ ràng hơn, người
Học viên Nhân Điện khi có được những năng lực tâm linh thì
có thể cảm nhận được sự hiện diện của những linh hồn con
người, linh hồn của cây cỏ, linh hồn muôn loài vạn vật,
những linh hồn xấu tốt hiện diện gần xa tuỳ theo năng lực
tâm linh của Học Viên, có thể tiếp xúc với những linh hồn
đó và có thể tác động lên những linh hồn đó. Sự hiện diện
của một linh hồn xấu, hoặc một linh hồn không thích hợp
trên một thân xác nào đó sẽ gây ra những tình trạng bệnh
hoạn thể xác hay tâm thần, sự can thiệp của năng lực tâm
linh người Học Viên Nhân Điện có khả năng chữa lành bệnh
tật cho người nầy trong chớp mắt, đó là những kinh nghiệm
thực tế nhiều Học Viên Nhân Điện đã từng trải. Tuy vậy,
chúng ta cũng không bao giờ dùng những kinh nghiệm tâm linh
nầy để chứng thực bất cứ điều gì với bất cứ ai, chúng ta
chỉ có thể trao đổi những kinh nghiệm tâm linh nầy với những
ai đã từng trải qua những kinh nghiệm tâm linh, hoặc những
ai tha thiết, chân thành muốn nghiên cứu, học hỏi.
Nhân Điện không chấp nhận bất cứ một hình
thức mê tín dị đoan nào, tức là không chấp nhận bất cứ một
niềm tin vô minh nào, Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, vị Đại Thiền
Sư Phật Giáo Tây Tạng đã nói rằng “Niềm tin Thần Thánh,
Tâm Linh phải bám chặt rễ trên những phần đất của trí tuệ”,
Nhân Điện còn muốn bổ túc thêm là “ Niềm tin Thần Thánh
Tâm Linh cũng cần phải có những tàng lá sum xuê của những
cảm nhận thân xác và những chứng nghiệm thực thể”. Nhân
Điện có niềm tin Tâm Linh, sự hiện diện và hoạt động của
những năng lượng tâm linh siêu hình, nôm na là những linh
hồn, có nhiều loại linh hồn khác nhau, tính chất khác nhau,
năng lực khác, năng lượng khác nhau, di chuyển, sinh hoạt
trong nhiều thế giới tâm linh khác nhau, một số linh hồn
có năng lực giao tiếp với thế giới hữu hình của con người,
và ngược lại một số con người có những năng lực tâm linh
giao tiếp với những linh hồn trong nhiều thế giới tâm linh
khác nhau.
Như vậy Tâm Linh nói chung, Linh Hồn nói
riêng là những đối tượng và những lãnh vực siêu hình nhân
loại đã biết đến từ nhiều ngàn năm trước đây, nhưng bây
giờ và mãi mãi là những lãnh vực luôn luôn còn nhiều bí
ẩn mà nhân loại còn phải nghiên cứu, học hỏi rất nhiều để
có những ứng dụng hữu ích trong đời sống nhân sinh, trong
đó có những công việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của con
người. Hiện nay Nhân Điện chưa đi sâu vào việc nghiên cứu
học hỏi về những tính chất, năng lực, đời sống của các Linh
Hồn, nhưng Nhân Điện đã có những ứng dụng cảm nhận linh
hồn, các dạng, các loại Linh Hồn, đặc biệt là sự hiện của
Các Linh Hồn mà ngành Nhân Điện vẫn gọi là “Những Linh Hồn
Bất Diệt Bất Tử”. Nhân Điện cũng đã học hỏi về những Linh
Hồn Tế Bào, Linh Hồn Thần kinh, những linh hồn ảnh hưởng
trực tiếp đến thân xác và sức khoẻ của con người, nhiều
Học Viên Nhân Điện cũng đã có những cơ duyên tiếp xúc với
những Linh Hồn Cao Cả, của nhiều chư vị Thần Thánh để học
hỏi tâm linh, để Minh Triết, Giác Ngộ.
e/. Tình Thương:
Một đối tượng vô cùng quan trọng và đồng
thời cũng là một mục tiêu vô cùng to lớn để nghiên cứu,
học hỏi, thực hiện thực hành của ngành Nhân Điện là Tình
Thương, một trong ba thành phần tên gọi của ngành Nhân Điện
“Nhân Loại Giác Ngộ Tình Thương”. Nếu Minh Triết Giác Ngộ
là một năng lực thuộc lãnh vực tâm linh siêu hình thì Tình
Thương là những rung động, cảm xúc, và năng lực của tình
cảm, tâm lý; Minh Triết Giác Ngộ thường được gắn liền với
Trí Não, Bộ Óc của Con Người, còn Tình Thương thì thường
được biểu thị bởi Con Tim, bởi vì người ta thường quan niệm
Tình Thương phát xuất từ trái tim và do Con Tim chi phối,
thực tế không ai biết rõ vị trí, tính chất, nguồn gốc, vv,
của Tình Thương.
Tình Thương ở đây chỉ là một từ ngữ đại
biểu cho những phạm vi nghiên cứu học hỏi thực hiện thực
hành về những vấn đề tâm lý, tình cảm của con người, đặc
biệt là những loại tâm lý tình cảm tốt đẹp như tình yêu
thương, nhân ái, bác ái, từ bi, lòng tốt, sự tử tế, sự giúp
đỡ, vân vân. Tình thương cho đến nay và có thể mãi mãi là
những năng lực vô cùng bí ẩn của con người, chúng ta có
thể nhận thấy tình thương và thậm chí chúng ta có thể sở
hữu tình thương, nhưng nó luôn luôn có những điều bí ẩn
với tất cả mọi người, chúng ta không biết rõ Tình Thương,
nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận biết những tác động và
lợi ích của Tình Thương trên nhiều lãnh vực, mà đặc biệt
trong đề tài nầy là lãnh vực Sức Khoẻ Con Người.
f/. Tâm – Sinh - Lý Hợp Nhất:
Khoa Học chứng minh rõ ràng mối tương quan
mật thiết của của Tâm Lý và Sinh Lý, gọi tắt là “Tương quan
Tâm Sinh Lý”, hệ luận của mối tương quan nầy là một Thể
Xác khoẻ mạnh đòi hỏi phải có một Tâm Lý lành mạnh, nói
một cách khác là chúng ta luôn luôn có một “Tâm-Sinh-Lý
hợp nhất”. Từ những hệ luận nầy chúng ta thấy tầm quan trọng
của Tình Thương, của những tâm lý tích cực bác ái, từ bi
nó sẽ tác động lên sức khoẻ thể xác con người, khoa học
chứng minh dễ dàng những tác động hổ tương nầy, tình yêu
nam nữ biểu hiện rất rõ mối tương quan nầy, tình yêu càng
nẩy nở thì thể xác càng biến đổi tốt; tình mẫu tử càng có
nhiều bằng chứng hơn nữa, người mẹ càng thương con thì khối
lượng sữa của người mẹ tiết ra càng nhiều, phẩm chất sữa
càng tốt, và ngược lại nếu tình thương con của người mẹ
giảm đi thì lượng sữa của người tiết ra cũng giảm đi về
số lượng và kém đi về chất lượng.
Nếu như những Tâm Lý tích cực mang lại
nhiều lợi ích cho sức khoẻ con người, thì ngược lại những
tâm lý tiêu cực sẽ mang lại nhiều sự tai hại cho sức khoẻ,
khoa học cũng chứng minh những mối tương quan mật thiết
nầy rất dễ dàng, người thường cũng có thể nghiệm xét thấy
được không mấy khó khăn. Một con người mang những tâm lý
tiêu cực như buồn phiền, oán hờn, ghen tuông, ganh tị, hận
thù, vân vân thì không thể nào tránh khỏi bệnh tật ốm đau.
Không có thứ thuốc men nào có thể chữa trị khỏi được những
chứng bịnh có những nguyên nhân tâm lý tiêu cực, nếu có
thì chỉ là những kết quả giới hạn và tạm thời, một khi nguyên
nhân bệnh vẫn còn thì bệnh vẫn còn. Khi tức giận thì chúng
ta không thể ăn uống, khi lo lắng thì chúng ta không thể
ngủ nghê; không ăn ngon, không ngủ ngon thì làm sao mà chúng
ta không bịnh hoạn được, muốn chữa trị những chứng bịnh
nầy phải giải trừ những nguyên nhân tâm lý chớ không phải
là dùng thuốc men.
Tâm lý không phải là những bài học suông,
nhận định một tâm lý tốt xấu, tiêu cực hay tích cực thì
không khó, nhưng muốn thay đổi một tâm lý thì có thể nói
là cực kỳ khó khăn, có người cho dù là có nhận ra những
lầm lỗi của mình, nhưng lại không thể nào thay đổi được
tâm lý của mình. Tâm lý tạo thành bởi rất nhiều nguyên nhân
khác nhau, phong tục, tập quán, cá nhân, gia đình, xã hội,
quốc gia, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá, vân vân là những
nguyên nhân tác động lên tâm lý của con người, tất cả những
nguyên nhân nầy thường bám rễ rất sâu rất chặt lên mỗi con
người không dễ gì vất bỏ hay thay đổi được, những khó khăn
nầy tạo nên những căn bệnh trầm kha của con người, muốn
thay đổi nó cần phải có những lực rất lớn, rất mạnh, rất
hữu hiệu mà nhân loại luôn luôn khao khát, mong mõi.
Nhân Điện đáp ứng được rất nhiều nhu cầu
tâm lý, tâm linh của con người, một kết hợp những tâm lý
tích cực tình thương, nhân ái, từ bi, phần lý thuyết học
được từ những bài giảng của Thầy Đáng trong những lớp học
Nhân Điện, phần thực hành là những công tác thiện nguyện
để giúp đỡ cho bất cứ ai trong tinh thần tình thương bác
ái, từ bi, truyền điện cho người, cho vật, cho cây cỏ, bông
hoa, vân vân. Với những đỉnh điểm tâm linh Học Viên học
được từ những dòng điện của Thầy Đáng, từ những thực tập
nhận điện tâm linh qua những công thức của Nhân Điện, qua
những thực tập thiền định nhập định, Học viên có những cơ
may đạt được những đỉnh điểm của tâm linh là minh triết
giác ngộ, những năng lực tâm linh cao cấp nầy sẽ mang đến
muôn ngàn lợi ích cho cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia.
Cụ thể, khi kết hợp được hai yếu tố Tình
Thương và Giác ngộ, chúng ta có thể giải trừ được rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến những bệnh tật ốm đau của thể xác, quan
trọng là chúng ta có thể loại trừ được nhiều bệnh tật ốm
đau trên những phương diện tinh tế là tình cảm, tinh thần.
Nói cách khác là chúng ta có thể giải trừ những nỗi khổ
đau của con người, đây mới là những mục tiêu quan trọng,
không chỉ của ngành Nhân Điện mà còn là những ước vọng chung
của cả nhân loại, còn quan trọng hơn cả việc trị liệu những
chứng bịnh của thể xác. Có những chứng bịnh chúng ta không
điều trị được, có những chứng tật chúng ta không chữa trị
khỏi, nhưng chúng ta vẫn có thể tránh được khổ đau, chúng
ta vẫn có thể có những hạnh phúc, niềm vui khi chúng ta
có được Nhân Ái, Tình Thương và Minh Triết, Giác Ngộ.
g/. TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG:
Con người là sinh vật thượng đẳng so với
muôn loài vạn vật ở trần gian, thượng đẳng do những ưu điểm
về tư tưởng, tình cảm và đặc biệt nhất là những ưu điểm
về mặt tâm linh, những ưu điểm các loài sinh vật khác không
có, hoặc chỉ có ở những mức độ, dạng hình thô sơ. Con người
có những điểm giống nhau và đồng thời cũng có những điểm
khác nhau, quan trọng là những cái tốt giống nhau, mà những
cái xấu cũng giống nhau, cái hay cũng giống nhau mà cái
dở cũng giống nhau. Con người nói chung đều thích muốn những
cái tốt, cái hay, đều không muốn những cái xấu, cái dở.
Đó là những cái căn bản, những nền tảng của Đạo Đức con
người, cái làm nên những tiến bộ văn minh, những ưu thế,
ưu điểm của nhân loại ở trần gian.
Những cái tốt, cái hay con người luôn luôn
mong mõi, tìm kiếm có thể tượng trưng bằng ánh sáng là:
niềm vui, hạnh phúc, sức khoẻ, tình thương, hoà bình, vân
vân, thực tế luôn luôn là những điều rất khó tìm kiếm, có
tìm kiếm được thì nó cũng rất dễ dàng biến dạng, biến hình,
rất khó tồn tại, bền vững. Những cái xấu, cái dở con người
luôn luôn ước muốn loại trừ có thể tượng trưng bằng những
bóng tối là: đau khổ, buồn phiền, lo lắng, sợ hải, bất an,
bệnh hoạn, ốm đau, tật nguyền, nghèo khó, quan trọng nhất
là cái chết, không ai muốn chết, nhưng mà không có một ai
tránh khỏi cái chết, không ai muốn khổ đau nhưng thực tế
hầu như con người nào cũng có những nỗi khổ đau, nguyên
nhân nầy, nguyên nhân khác, thời gian nầy, thời gian khác,
nơi chốn nầy, nơi chốn khác.
Những lớp học Nhân Điện cao cấp do Thầy
Đáng giảng dạy có tên gọi là “Triết Học Đông Phương”, bởi
vì Triết Học Đông Phương là những Kho Tàng châu báu Tâm
Lý Tâm Linh của nhân loại, nơi đây chúng ta có thể tìm thấy
muôn điều lợi ích cho con người, những tư tưởng, quan niệm,
những triết lý cao siêu, những minh triết giác ngộ của rất
nhiều bậc hiền giả, triết nhân, của những vị chân tu đạo
hạnh, của nhiều vị Bồ Tát, Đạo, Phật, vv. Những báu vật
tư tưởng, tâm linh trong kho tàng Triết Học Đông Phương
là những ánh sáng, những bông hoa hạnh phúc, những niềm
vui, sức khoẻ, những tâm thái an bình, vân vân, mà nhân
loại luôn luôn mong mõi, tìm kiếm; là những chiếc đũa thần
tiên có thể giúp đỡ con người thoát khỏi những bóng tối
âm u của những đau khổ, hận thù, lo lắng, buồn phiền, hờn
giận, ganh ghét, tị hiềm, lo lắng, sợ hải, vân vân.
Triết Học vốn là một môn ngành học thuật
rất cao cấp của nhân loại, xưa nay vốn gần như là độc quyền
của các nhà tu học cao thâm, ít người học hỏi được cho nên
kết quả là đa số nhân loại không được học hỏi những chân
lý, những đạo đức, phẩm hạnh cao siêu để có được những niềm
vui, an lạc, hạnh phúc, để giải trừ những sân hận, khổ đau,
những điều còn quan trọng hơn sức khoẻ con người, những
nguyên nhân chính yếu và sâu xa của những bệnh hoạn, ốm
đau. Thầy Đáng và những lớp học “Triết Học Đông Phương”
với những phương thức mới nhất của ngành Nhân Điện có thể
mang lại những ánh sáng của Hạnh Phúc, niềm vui, giải trừ
những nỗi lo lắng, sợ hải, buồn phiền, đau khổ cho nhiều
người.
Để phù hợp với những thực trạng và nhu
cầu giảng dạy cho cùng lúc hàng ngàn Học Viên thuộc đủ mọi
thành phần xã hội, tuổi tác, kiến thức, trình độ, tâm lý,
tâm linh, vân vân, ngoài phần giải đáp có tính cách gợi
ý và hướng dẫn tâm linh, những câu hỏi về những đề tài chủ
yếu của Triết Học là: “ sinh tử bệnh lão, hạnh phúc - khổ
đau, từ bi - bác ái, giác ngộ - minh triết, Thượng Đế -
con người, Thiên Đàng – Địa ngục, Ác Quỷ - Thiên Thần, vân
vân”, mỗi ngày Thầy Đáng truyền những dòng điện Tâm Linh
đến tất cả Học Viên và cho Học Viên những công thức thực
tập Thiền Định Nhập Định, những công thức thu nhận Ánh Sáng
Hào Quang Thượng Đế để mỗi Học Viên tự mình thực hiện thực
hành những phương thức tu học đặc biệt của ngành Nhân Điện,
thực hiện những mục tiêu chính yếu của ngành Nhân Điện là
“ cứu mình, giúp người”, con đường ngắn nhất, nhanh nhất
để học hỏi tâm linh, Triết Học Đông Phương.
Tóm lại, Triết Học Đông Phương cho ta những
năng lực của trí tuệ và tâm linh để chúng ta có được những
trí tuệ minh triết, những tâm linh giác ngộ, Triết Học Đông
Phương cũng cho chúng ta những năng lực của tâm hồn để chúng
ta có được tình thương, nhân ái, từ bi. Một kết hợp chặt
chẽ và bền bĩ những yếu tố trí tuệ minh triết, tâm linh
giác ngộ, tâm hồn từ bi với những năng lực của Thượng Thiên,
Ánh Sáng Hào Quang Thượng Đế, dòng điện Tâm Linh, chúng
ta mới giải quyết được những vấn nạn nan đề muôn thưở của
con người, những mong muốn hạnh phúc bình an của cõi giới
Thiên Đàng, những Thiên Đàng Thiên Quốc trong lòng người,
chúng ta mới thoát khỏi những tâm trí sợ hải, buồn phiền,
khổ đau của những cõi giới Địa Ngục, những cõi giới không
có không gian, những cõi giới của những tấm lòng độc ác,
cõi giới của những Tâm Hồn vô cảm, u minh.
Bao nhiêu lâu và ở nơi nào con người còn
có những lo lắng, khổ đau là nơi đó chúng ta còn cần tới
Triết Học, bao nhiêu lâu và bất cứ nơi nào con người còn
có những mong ước hạnh phúc, bình an là chúng ta còn cần
tới Triết Học. Đức Phật nói “khi nào thế gian không còn
ai khổ ải thì Đức Phật mới về cõi Niết Bàn”, chúng ta có
thể nói: “ Còn hiểu biết, còn suy tư, còn mong ước, còn
lo lắng, còn sợ hải, còn cảm xúc, vân vân thì chúng ta còn
cần đến Triết Học, không có Triết Học cuộc sống nhân sinh
không thể thăng tiến, thăng hoa, con người không thể minh
triết, giác ngộ”
· NHÂN ĐIỆN & QUAN ĐIỂM SỨC KHOẺ TOÀN DIỆN của WHO
Y Khoa Thực Dụng đã có những thành quả
to lớn và cụ thể cho nên ngành học nầy đã và đang chiếm
lĩnh những vị trí ưu đẳng trên nhiều quốc gia, xã hội, không
ai có thể chối bỏ những lợi ích và ưu điểm của các ngành
y học thực dụng Tây Phương, tuy nhiên ngay chính Hippocrates,
vị Tổ Sư của ngành Y khoa thực dụng cũng đã cảnh giác những
khuyết điểm của ngành học nầy, lưu ý về những nhu cầu chữa
trị toàn diện, đòi hỏi sự thực hiện mối liên kết không thể
tách rời của thể xác và tinh thần; Tổ chức Y Tế Thế Giới
WHO cũng công nhận những ý niệm y tế cởi mở và đòi hỏi một
sức khoẻ toàn vẹn của con người, một sức khoẻ bao gồm nhiều
phương diện: thể xác, tư tưởng, tình cảm, tâm linh, vv.
Để có thể thực hiện một nền y tế nhân bản,
nhân đạo và cởi mở nhằm phục vụ lợi ích của nhân loại, đáp
ứng được quan niệm sức khoẻ toàn diện của con người, chúng
ta cần có sự đóng góp của nhiều cá nhân, nhiều tổ chức,
y tế và phi y tế, kể cả những tổ chức, môn ngành học thuật
có vẻ không liên quan đế y tế y khoa như các ngành thần
học, xã hội học, kinh tế học, vân vân, kể cả sự góp mặt
của các tôn giáo, và như vậy chúng ta cũng có thể kể thêm
sự đóng góp của ngành Nhân Điện.
Ngành Nhân Điện của Giáo Sư Tiến Sĩ Lương
Minh Đáng với những nội dung, tính chất, mục đích, mục tiêu
dù chỉ mới được trình bày một cách rất đại cương và rất
khái quát trên đây cũng đã đủ để chúng ta có những nhận
định không nhầm lẫn là ngành học nầy đáp ứng nhiều nhu cầu
của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO, cơ quan y tế bất vụ lợi của
tổ chức Liên Hiệp Quốc với những quan điểm tiến bộ và cởi
mở về y tế, quan điểm sức khoẻ toàn diện: thể xác, tinh
thần, tâm lý, tâm linh.
Nếu minh triết chúng ta sẽ thấy được nhiều
phạm trù cần được bổ sung cho nền y tế hiện nay, chúng ta
sẽ thấy thuốc men tuy là rất cần thiết cho việc trị liệu
bệnh tật ốm đau, nhưng trong rất nhiều trường hợp chúng
ta thấy rõ là nếu chỉ có thuốc men thì chúng ta không thể
nào giải quyết những khó khăn, bế tắt trong việc bảo vệ
sức khoẻ con người. Chúng ta không thể nào cung cấp thuốc
men cho tất cả mọi người ốm đau trên toàn thế giới, mặt
khác có nhiều chứng bịnh hiện nay không thể điều trị được
bằng những phương tiện thuốc men, và chúng ta cũng thừa
biết là “Phòng bịnh hơn trị bịnh”.
Phòng bịnh không chỉ đơn thuần là áp dụng
những phương pháp vệ sinh, những phương thức sơ đẳng mọi
người đều đã biết đến; chúng ta cần đến những phương thức
phòng bịnh rộng lớn hơn, toàn diện hơn, sự hợp tác của rất
nhiều học thuật khác nhau như kinh tế, xã hội, văn hoá,
giáo dục, kể cả các ngành thần học, tâm linh, vân vân. Kinh
tế phát triển, xã hội tiến hoá, giáo dục đầy đủ là những
yếu tố vô cùng tích cực và cụ thể để mang lại sức khoẻ cho
con người, những dân tộc càng ngu dốt, đói nghèo thì sức
khoẻ của họ càng suy kém, cho nên không thể nói đến việc
chăm sóc sức khoẻ cho con người mà không quan tâm đến những
khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, vân vân. Chiến
tranh, nghèo đói, thiên tai, hoả hoạn, giông bão, lụt lội,
động đất, vân vân là những vấn nạn nghiêm trọng khác của
con người, đối phó với những vấn nạn nầy cũng là những phương
thức phòng bịnh hữu hiệu, những chăm sóc sức khoẻ và cả
mạng sống của con người. Nhân Điện là ngành học duy nhất
quan tâm đến tất cả những vấn nạn kể trên, NLVT, Minh Triết
Giác Ngộ, Nhân Ái, Từ Bi, là những phương tiện của ngành
học Nhân Điện đã đang và sẽ giúp đỡ mọi mặt cho nhân loại
đối phó với tất cả những vấn nạn nan giải và bất tận của
con người: chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, ốm đau, thù
hận, khổ đau...
Chỉ cần một đóng góp cho một phương diện
nào đó của sức khoẻ con người cũng đủ nói lên giá trị và
sự cần thiết của một môn ngành học thuật, một môn ngành
học thuật cho dù chỉ trị liệu được một chứng bịnh duy nhất
thôi cũng rất xứng đáng để nhân loại ghi nhận và tri ân,
một phương pháp trị bịnh cho dù chỉ cứu được một mạng người
duy nhất thì cũng đủ để chúng ta ngưỡng mộ và trân trọng;
Nhân Điện là một ngành học thuật có nhiều đóng góp trên
nhiều phương diện tinh thần, thể xác, tâm lý, tâm linh,
vân vân, cho nên, Nhân Điện rất xứng đáng để được nhiều
người hoặc là lưu ý, quan tâm, hoặc là nghiên cứu, hoặc
là tìm hiểu.
Vì những lợi ích cho Sức Khoẻ Con Người
nói riêng, những lợi ích nhiều mặt: thể xác, tinh thần,
tình cảm, tư tưởng, tâm linh, vân vân, của Nhân Loại, những
lợi ích của Cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, vân vân,
Nhân Điện phải có được những quyền hạn tự do giảng dạy hay
truyền bá rộng rải ngành học của mình trên mọi quốc gia,
trên toàn thế giới như bất cứ một môn ngành học thuật tâm
lý, tâm linh nào khác theo đúng những nguyên tắc nhân quyền
của cơ quan nhân quyền Liên Hiệp Quốc: “quyền tự do và bình
đẳng trong phẩm cách và quyền hạn của con người, quyền tự
do tư tưỡng, tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do thay đổi
tôn giáo hay tín ngưỡng, quyền tự do biểu lộ tôn giáo hoặc
tín ngưỡng, quyền truyền dạy, thực hành, thờ phượng và làm
lễ, dù là riêng biệt cá nhân, hoặc trong cộng đồng với những
người khác tại những địa điểm công cộng, hoặc tại những
địa điểm tư nhân.” (Điều khoản 18 của Bản Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền của Liên Hiệp Quốc)
Australia 30th May 2006
Dr. Thái Tấn Truyền
M.D. (T.M.), Ph.D.
|